Sign up

THƠ XUÂN CHÀO NĂM MỚI

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 22:40

XUÂN-MƯA-QUÊ

 

Về quê

Xuân

Mịt mù mưa

Giống như dưới đất

Tôi vừa chui lên

Bùn lầy!

Quên!

Rét mướt !

Quên !

Bánh tày* nhớ dẻo,

Xôi rền

Nhớ xưa !

 

Xuân

Về xứ Nghệ

Mưa

Mưa…

Đồng run

Nước cóng

Cày

Bừa…

Vẫn trâu !

Năm mươi

Lên lão

Để râu

Nói toàn cái giọng

Trên đầu không ai !

 

Mưa lai rai

Nói lai rai…

Chè xanh bốc khói

Ruột dài

Ỏng eo :

Bọn choa thà cái phận nghèo

Còn như mánh khoé mà trèo

Thèm vô !

Mẹ cha thằng nớ ăn ngô

Mà dừ biệt thự chỗ mô cũng mần!

Hắn mà cái thá nông dân

Xách oi* ra hói*

Bỏ cần …

Về không!

 

Những nơi thờ tự cha ông

Cháu con khắp chốn

Rắn rồng khói hương

Xe con rúc bụi

Leo đường

Hồn thiêng đội mả chiến trường

Về theo.

 

Chẳng ai chê mẹ cha nghèo

Khắp nơi

Chí chốn

Bọt bèo

Nỏ quên

Vườn

Cỏ mọc

Nhà

Rêu phên

Bỏ hoang để đấy

Làm nên xứ người

 

Mưa xuân

Mù mịt đất trời

Ai về Xứ Nghệ cùng tôi thì về !

 

Hà Nội 28-2-2008

NGUYỄN LÂM CẨN

*Tiếng địa phương -Oi: Cái giỏ.- Hói: Con suối nhỏ.-Mà chừ: Bây giờ.-Mô : Nào.- Mần: Làm

                              - Thèm vô: Không thèm, không cần.- Bánh tày: bánh tét(Bánh giầy)

 

 


THƠ VIÉT VỀ BIỂN

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 21:22

BIỂN LÒNG

 

Có lũ giặc tàng hình trong biển

Súng nổ ngầm xé sóng nát hoàng hôn

Chúng hung hăng tràn lên mặt đảo

Đào Tổ Quốc ta cắm cột mốc linh hồn

 

Năm mươi đứa con Mẹ Âu Cơ về biển

Đang ngày đêm ra lộng vào khơi

Bọn chúng đến mẹ lại đau thắt ruột

Đẻ thêm ra triệu triệu đứa căm hờn

 

Mấy ngàn năm còn cắm cột Bạch Đằng

Còn đó Chương Dương, Đống Đa… máu đỏ

Lịch sử nhắc bao lần khiếp sợ

Nghe trống đồng rung, tóc dựng trắng đầu

 

Có biển lớn đang nằm trong biển

Hiền hòa xanh êm ả đón bình minh

Sóng sẽ gầm lên khi quân thù ló mặt

Biển lòng dân yêu Tổ Quốc mình.

Hà Nội 26-12-2011

NGUYỄN LÂM CẨN

 

 

 

 

 


VIẾT VỀ MẸ VN-NGƯỜI MẸ ANH HÙNG

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 22:00

 

 

alt

MẸ VÀ TƯỢNG ĐÀI

 

Họ đi từ mặt ruộng đi lên

Lớp này

Lớp khác

Hương khói quay về

Tóc trùm mây… mẹ bạc

 

Mẹ bới năn lác :

Hài cốt !

Bới góc ao tù:

Hài cốt !

Bới trong bùn

Hài cốt !

Bới ruột gan:

Hài cốt !

Tổ quốc mẹ kiến tạo từ hài cốt

Trên xác chồng, con…

Mẹ sống kiếp vô hình

 

Bước từ ruộng lên

Như gió vật vờ

Mẹ đi về ngôi nhà tình nghĩa

Đè lên vai nặng trĩu những linh hồn

Khép mở đói no nhân ảnh hoàng hôn

Vọng phu đá còn có con để ôm

Còn hy vọng nghìn năm chồng quay lại

Mẹ mắt mờ ngắm tượng đài cao mãi !

 

Giờ lưng mẹ còng

Chân bồng bềnh gió thổi

Nước mắt mẹ lên trời thành mây

Nghe sấm chớp ùn ùn đổ xuống

Rửa bụi tượng đài

Lênh loang mặt ruộng

Nơi hài cốt đang hò nhau gặt hái, cấy cày

Cây lúa lên xanh đợi mẹ chín từng ngày.

 

Hà Nội 07-10-2011

NGUYỄN LÂM CẨN

 


THƠ

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 21:54

VỚI HỒN VUA MẠC ĐĂNG DUNG

 

Hồn Vua đang ngự ở đâu

U u trời đất

Trên đầu ai không ?

Nước non ngang dọc núi sông

Đỏ bầm máu của cha ông nối đời

Nghiệp vua hưng phế qua rồi

Trông lên hình bóng còn ngồi lắt lay !

Thẳng cong chỉ một đường cày

Vua quan đổi kiếp ăn mày như chơi !

 

Xương phơi trắng

Đầu rụng rơi

Trừng trừng mắt mở nhìn trời trân trân

Quạ đen rỉa xác lương dân

Ngai vàng là chốn phù vân cõi người

Sử kinh bút quệt máu tươi

Từng trang vẳng tiếng khóc cười mà đau !

Nồi da khi nấu thịt nhau

Tranh quyền vương bá ngàn lau trắng cờ !

 

Hồn vua biết có bơ bơ ?

Dương Kinh rêu xám đền thờ nơi đây

Ngai vàng trụ được xưa nay

Cũng từ cơm áo dân cày cả thôi !

Nhục vinh muôn sự cơ trời

Lọng vàng ụp xuống không hồi trống rung

Dân đen

Dưới đáy

Tận cùng

Lưỡi gươm lạnh toát

Anh hùng xả thân !

 

        Hà Nội 13-10-2011

 NGUYỄN LÂM CẨN


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 22:03

alt

 

ÂN HẬN

 

Tôi biết chắc bên kia con đường cái

Có cô nàng đang đứng đợi tôi

Tôi chặc lưỡi tự bảo mình:Không phải

Đấy chỉ là một bụi gai thôi !

 

Tôi biết chắc trên chiếc giường hôm ấy

Có cô em đang nằm đấy đợi tôi

Nhắm mắt lại nói với mình:Không phải

Đấy là nơi chồng cô ấy đang ngồi !

 

Tôi biết chắc trong bài thơ ấy

Trái tim nàng đang đập cùng tôi

Tôi tự nói: Đấy chỉ là tờ giấy

Chữ đã mờ và đang bạc như vôi !

 

Đêm lại đêm sống trong đơn côi

Mới xa xót những khi mình giả dối

Sực tỉnh lại, tìm nàng trong mỗi tối

Nàng đã đi không quay lại nữa rồi !

 

 Hà Nội 10-9-2011

NGUYỄN LÂM CẨN

 


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 21:53

 

alt

ƯỚC

Tôi ngồi bới gió giữa đồng

Gió bay đằng gió, tôi trồng rạ khô

Người xui rắc xuống hạt ngô

Sớm mai đầy ruộng nấm mồ cỏ hoang

 

Tôi đành vác gió lang thang

Đi trong hương khói mơ màng dưới chân

Đất xa cứ tưởng trời gần

Tìm em lạc chốn phù vân giữa đời

 

Về làng đong hạt mưa rơi

Hạt ra sông cái, hạt vơi vơi lòng

Ước gì còn hạt nước trong

Đang lên cơn khát cầu mong tôi về.

Hà Nội 11-9-2011

NGUYỄN LÂM CẨN


THƠ LỤC BÁT ĐƯỢC GIẢI 3 CỦA NGUYỄN LÂM CẨN

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 21:17

                                CUỘC THI THƠ LỤC BÁT

"Ngàn năm hồn Việt, Tân Mão - 2011": Khúc hoà ca tôn vinh thơ dân tộc

 

Cuộc thi thơ Lục bát "Ngàn năm hồn Việt, Tân Mão-2011" do Báo Người cao tuổi, Website lucbat.com, CLB Thơ Việt Nam phối hợp tổ chức vừa kết thúc sau gần ba tháng phát động với những con số đầy ấn tượng: hơn 55.000 tác phẩm dự thi của gần 5.000 tác giả khắp mọi miền đất nước.

 

Thật hiếm có cuộc thi thơ nào từ trước tới nay nếu so về mặt thời gian và các đối tượng tham gia lại cuốn hút một lượng tác giả và tác phẩm nhiều đến như vậy. Riêng Báo Người cao tuổi đã nhận được 43.818 tác phẩm dự thi, Website: lucbat.com cũng gần 10.000 tác phẩm hơn 3.000 tác giả. Có lẽ, do thơ Lục bát vốn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân ta, ngấm vào máu thịt mỗi người, thấm đẫm trong lời ru của mẹ, ngọt ngào trong câu hát dân ca; thân thiết như luỹ tre, bến nước, như cánh đồng dập dìu cò bay ngát say mùa chín; như dòng sông sóng sánh mùa trong, ăm ắp phù sa mùa đục, mà từ già tới trẻ đều có thể làm cho nó thăng hoa với bao cảm hứng và âm hưởng ngọt ngào.

Dự cuộc thi năm nay, hầu như đủ mọi thành phần, lứa tuổi, nghề nghiệp, từ nhà thơ chuyên nghiệp, cán bộ nghỉ hưu, nhà khoa học, nghệ sĩ, kĩ sư, công nhân, giáo viên, học sinh, cán bộ nghỉ hưu đến những CCB hay quân nhân còn tại ngũ. Như Đỗ Danh Mạnh ở đơn vị C31 thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Ninh; Thiếu tướng CCB Hồ Bắc; Thiếu tướng CCB Nguyễn Văn Thố, cụ Nguyễn Ngọc Hải 90 tuổi ở phường Cẩm Phú, TX Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; cô giáo Trường Trung học phổ thông TP Vũng Tàu, Nguyễn Thị Hiền Mai; nữ sinh Nguyễn Thị Hiền (sinh năm 1995), học sinh Trường Trung học phổ thông Văn Giang, tỉnh Hưng Yên… Trong thư gửi về Ban Tổ chức, em Nguyễn Minh Đức (sinh năm 1996), học sinh lớp 10, Trường Trung học phổ thông Mỹ Đức A TP Hà Nội cho hay, em tuy còn nhỏ nhưng vẫn hay đọc Báo Người cao tuổi để hiểu về ông bà, cha mẹ và rất thích chuyên mục Văn hoá Văn nghệ. Em gửi tới 7 bài thơ trong đó có bài "Vận Kiều" dài tới 287 câu. Lí giải về tình yêu đối với thơ Lục bát, em viết: "Thơ là tình nghĩa mẹ cha/ Thơ là nhựa sống chan hòa trong tim".

Còn đối với người cao tuổi, cuộc thi thơ lại là dịp để tâm hồn, tình cảm của mình bay bổng với nhân tình thế thái, với quê hương, đất nước; chiêm nghiệm, bày tỏ điều tâm huyết với thơ. Sinh hạ ra những bài thơ tâm đắc, họ lại truyền ngọn lửa cảm xúc ấy cho bạn bè, thi hữu, thổn thức đến quên ăn, quên ngủ, trở trăn với từng con chữ. Có những CLB thơ ở địa phương còn tuyển chọn thơ của hội viên mình trước khi gửi tới Ban Tổ chức.

Ngay trong tuần đầu khởi động cuộc thi thơ, đã có hàng trăm tác phẩm gửi về Ban Tổ chức bằng đường bưu điện, qua hộp thư điện tử hoặc tác giả trực tiếp mang đến. Nhiều tác giả không chỉ gửi về những tác phẩm tốt mà còn trình bày khá công phu, hấp dẫn. Tác giả Phan Sỹ Quán, nguyên chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam và chuyên gia báo chí giúp bạn Lào đã gửi về dự thi 5 bài thơ được in rất đẹp trên hai bức tranh trang trí chữ Thư pháp. Tác phẩm gửi đi rồi, họ lại thấp thỏm chờ đợi hồi âm về những "đứa con tâm hồn" mà mình lao tâm khổ tứ, "mang nặng đẻ đau". Cũng vì thế mà điện thoại của bộ phận tiếp nhận tác phẩm hằng ngày liên tục đổ chuông bởi khắp nơi gọi đến. Một trong những điều để lại ấn tượng khó quên đối với Ban Tổ chức là trường hợp hai vị khách cao tuổi dắt nhau đến giữa một ngày hè nắng rát, nhiệt độ ngoài trời 37, 38 độ C. Người con tuổi 70 dắt bố tuổi 90 đến tận nơi tiếp nhận thơ dự thi để người bố được trực tiếp hỏi xem tác phẩm của cụ đã tới Ban Tổ chức hay chưa, còn việc đoạt giải hay không, đối với cụ không quan trọng.

Suốt thời gian cuộc thi diễn ra, hầu như tuần nào bộ phận sơ khảo cũng phải làm việc thêm giờ, cả ngày nghỉ cuối tuần. Mọi tác phẩm gửi đến dù viết bằng tay trên những trang giấy thô sơ mộc mạc, nét chữ ngả nghiêng hay đánh máy vi tính đều được nâng niu trân trọng và thẩm định kĩ càng. Nhiều địa phương có lượng tác giả tham dự đông như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Thái Bình, Phú Thọ v.v…

Trong tổng số tác phẩm dự thi, viết về tình yêu chiếm một tỉ lệ khá lớn, tới hơn 80%, còn lại là về quê hương, đất nước, những hoài niệm một thời còn hằn sâu trong kí ức và những trăn trở suy tư cuộc sống hôm nay. Nhìn chung, chất lượng tác phẩm tương đối đồng đều. Có nhiều bài viết công phu, tâm huyết, tìm tòi, trăn trở, có sức lay động, truyền cảm. Tuy vậy, còn ít tác phẩm thật nổi trội, còn thiếu những tứ thơ loé sáng mang tính tìm tòi, phát hiện, ngời lên cái lung linh của trí tuệ, gợi xúc động và tạo ra được sự liên tưởng sâu xa, chưa thể hiện được" mỗi chữ là một tướng mạo, một lịch sử và cả tác phẩm là "một kiến trúc đầy âm vang". Lục Bát là thể thơ đầy nhạc điệu cho phép chúng ta thả sức sáng tạo, tuy nhiên còn một số tác giả viết như nói, giá trị như báo tường, từ ngữ mòn sáo hoặc gượng ép vào vần điệu, tựa một bài vè mà không có tư duy hình tượng, thiếu đi cái tính chất "ý tại ngôn ngoại"; hoặc chỉ dừng ở mức cảm xúc mà chưa có sự thúc đẩy của trí tuệ để thăng hoa. Cũng thật tiếc cho một số tác giả có những tứ thơ hay nhưng cách thể hiện, chuyển tải lại chưa tốt, thiếu đi tính nghệ thuật.

Tuy còn có những điểm chưa thoả mãn, nhưng "Lục bát Ngàn năm hồn Việt, Tân Mão - 2011" là một cuộc thi thơ mà tầm vóc, sự lôi cuốn và sức lan toả vượt xa những cuộc thi thơ thông thường. Dù được giải hay chưa được giải mọi người đều có chung một niềm vui, thêm những sáng tạo, cảm hứng mới và có quyền tự hào vì đã dành một phần tâm hồn, tình yêu cho thơ Lục bát, một thể thơ được coi là "quốc hồn, quốc tuý" của dân tộc; góp phần tôn vinh thể thơ truyền thống, khẳng định sức sống lâu bền, bén rễ ăn sâu trong tâm hồn, trái tim của người Việt Nam và nó mãi âm vang trong tâm trí của những người làm thơ, công chúng yêu thơ trong cả nước

                                                                                                                    Thanh Cao

 

              CHÙM LỤC BÁT ĐƯỢC GIẢI 3 CỦA NGUYỄN LÂM CẨN

 

 

THẰNG ĐỜI

 

Đời là mưa núi, lũ sông

Là sa mạc trắng

Cánh đồng gió xiêu

Là kiềng

Là chổi

Là niêu…

Là chim sẻ

Là cú diều

Quạ đen…

Đời là rượu cất từ men

Thảo dân, quan chức, sang hèn…đều say

 

Ngửa đời đo được gang tay

Gánh đêm cụt kịt

Gánh ngày toòng teng

Mạnh thì mưu mánh, lấn chen

Yếu thì nhận lấy phận hèn cáy cua

 

Bao nhiêu tư tưởng đều thua

Thằng đời vẫn cứ bán mua chợ giời

 

 Nghệ An 18-3-2011

 

CỐ HƯƠNG

 

Bỏ quê ngậm quả bồ hòn

Tôi đi về phía vẫn còn tình thương

Gọi lên hai tiếng quê hương

Nghẹt lời chết giữa gió sương thiếu thời

 

Tạ ơn đất

Tạ ơn giời

Cho tôi còn sống làm người

Tạ ơn !

 

Đập đầu tôi lạy giang sơn

Cho tôi gánh nặng tủi hờn mà đi !

 

Phúc lai có Phật độ trì

Bếp nhà còn đỏ

Tôi thì còn quê

Bạc phơ mái tóc tôi về

Trẻ con:

Ông nớ !

Ông tê !

Ai hè ?

 

Tôi ngồi đếm rụng lá tre

Bao nhiêu xác lá chở che cho mình ?

 

 Nghệ An 17-3-2011

 

CHỢ CHEN

 

Chen người người lại chen ta

Đâu là kẻ cắp ?

Đâu là thường dân ?

Chen vai, chen áo, chen quần

chen mua, chen bán

chen gần, chen xa

đàn ông chen với đàn bà

không chen không lấn không ra Chợ Viềng

 

Mỗi năm chợ họp một phiên

Rủ nhau may rủi đồng tiền đầu xuân

Cái thực chen cái phù vân

Người ơi nếm lấy một lần chen nhau

Anh chen trước

Em chen sau

Tình duyên mở hội sắc màu chợ chen

Chợ đời phơi mặt trắng đen

Chợ Viềng ai biết sang hèn ấy ơi

 

Chen nhau tưởng đến hụt hơi

Bao nhiêu xo xúi đánh rơi Chợ Viềng

 

 Chợ Viềng 09-02-2011

 ( 07-01-Tân Mão)

NLC

 

MỜI ĐỌC BÀI ĐƯỢC GIẢI NHẤT CUỘC THI

CỦA ĐẶNG CƯƠNG LĂNG

 

MỘT ĐỜI

 

Một đời bát ngát rừng cây

Xin dâng hiến mãi đất này màu xanh

 

Một đời sông suối như tranh

Hết mình cuộn chảy mong manh ngọn nguồn

 

Một đời chim hót véo von

Gọi bình minh sáng xanh non núi đồi

 

Đi đâu cũng một đất trời

Ở đâu cũng một nụ cười vấn vương

 

Luân hồi vòng xoáy âm dương

Trở về cát bụi con đường nhẹ tênh

 

Dòng đời còn lắm chông chênh

Để cho xô đẩy, lênh đênh con đò

ĐCL

 


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 15:50

 

alt

GIÁ NHƯ

Giá như đừng nhạt nắng đi

Bóng người xưa ấy có khi không mờ

Giá như đừng thổi vu vơ

Chắc là gió chẳng nằm trơ về già

 

Giá đừng lạc lối người ta

Chắc ngày không tối ngã ba giữa đường

Thánh nhân ngủ với khói hương

Nỗi niềm lắm mối còn vương nợ đời

 

Giá như nhân nghĩa đừng vơi

Tim đừng hóa đá, thói đời đừng câm

Thì trong cát bụi lỡ lầm

Niềm tin vừa ấm tay cầm không rơi

 

Chỉ thương thân cỏ cỏ ơi

Đã bò sát đất còn rơi xuống bùn

Giá như trước gió đừng run

Cỏ không hóa kiếp thành mùn đất đai.

Hà Nội 04-9-2011

NGUYỄN LÂM CẨN

 

 

 


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 22:12

alt

NẰM VÕNG

 Gối đầu lên kẽo kẹt

Đu đưa

Đu đưa…

Hồn quê xưa ru lời mẹ hát

Đêm về bát ngát

Căn nhà nhỏ nhoi

 

Gối đầu lên cái nồng oi

Rưng rưng thương giọt mồ hôi tháng ngày

Đặt lưng lên đắng mà cay

Lên mưa mà nắng, lên ngày mà đêm

 

Tay mình mình gối đâu êm

Tiếng đưa kẽo kẹt

Đưa nóng vào rét

Ruột gan bồn chồn

Đưa dại vào khôn

Lắc lư ngú ngớ

Gối vào ú ớ

Giấc mơ cuối chiều

 

Gối lòng vào cánh tay yêu

Nghe kẽo nghe kẹt

Tình tang cót két

Thả rơi cánh diều

Thì đưa vào chốn phiêu điêu

Nghe trong thương nhớ ít nhiều rủi may.

 Hà Nội 29-8-2011

 NGUYỄN LÂM CẨN

 

 

 


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 18:50

 

alt

XUNG ĐỘT

Ngắm em bồng bềnh trên sàn diễn

Thả hồn trôi…

Tiếng nhạc êm như dòng xanh chảy

Mơ màng trong cặp sóng đôi

 

Ước chi sàn nhảy mồ côi

Mắt và tay đừng chạm vào ai đó

Một trái tim rút ruột đi rồi

Tai âm u gió

 

Vẫn biết không dại khờ ruồng bỏ

Một tình yêu đá cũng bồn chồn

Cứ vặn mình xanh lên như cỏ *

Thế mà run

 

Khói nào bay khi củi không đun

Một thoáng ghen thấy mình sao bé nhỏ

Ngắm em rồi đó

 

Tâm hồn đóng cửa

Hãm tình yêu ngục tối sống mòn

Niềm tin khi đã không còn

Chỉ héo hon.

 Hà Nội 26-8-2011

NGUYỄN LÂM CẨN

 

* Ý câu thơ của nhà thơ Thi Hoàng

alt


THƠ TÌNH

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 22:36

 

alt

NHỮNG CHIẾC GIƯỜNG CÔ ĐƠN

(Tặng những ai trong cảnh ngộ)

 Trên chiếc giường ấy

Giấc ngủ gối đầu lên sự già nua ọp ọep

Sợi tình bạc tóc vò búi từng đêm

Nuốt ngầm vào bụng tiếng rên

Thở dài ra nụ cười vai diễn

 

Hạnh phúc trốn tìm sau điểm hẹn

Sự già nua tự mọc cánh cho mình

Tự bay trên vết thương không kín miệng

Mỗi lần trở về chiếc gối nhói đau

 

Những chiếc giường đi tìm nhau

Gặp tuổi tác sẻ chia số phận

Tình yêu tự biết mình lận đận

Len vào giấc ngủ mà mơ

Len vào từng câu thơ rung nhịp tim thầm kín

Len vào sự vụng trộm của lương tâm thật thà

Nỗi cô đơn trên mỗi chiếc giường biết nói

Kê lên từng góc nhà

Kê lên tuổi ông, tuổi bà

Và dưới chân có xương con cá bống

Không còn ngày hội để đào lên

Những chiếc giường lặng câm tìm ngày hội đêm đêm.

  Hà Nội 23-8-2011

 NGUYỄN LÂM CẨN


TRUYỆN NGẮN CỦA TRỊNH TUYÊN

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 15:42

alt

 

                      CHUYỆN TÌNH XÓM NÚI

                                                        Truyện ngắn của Trịnh-Tuyên

 Việc cô Thông có thai làm cả xóm núi kinh ngạc.

- Xóm vắng, có hơn chục nóc nhà, toàn là ông bà già trẻ nít, chửa với

ai mới được chứ ?

- Lạ nhỉ, lâu nay cô ta có đi đâu xa? Suốt ngày chăm gà, chăm lợn,

ngoài ra chăn dắt mấy con bò dọc bờ sông, mà khúc sông này vắng lắm,

nước chảy xiết, toàn vụng thẳm, thuyền bè đi qua dạt sang bờ trái hết,

có ai dám bén mảng đến cái xứ khỉ ho cò gáy này đâu?

Người rỗi mồm thì cứ bàn ra tán vào, còn cái bụng cô Thông thì cứ mỗi

ngày mỗi nhô cao lên theo thời gian một cách kiêu hãnh...

**

Xóm Cùng nằm bên bờ thượng nguồn sông Mã, phía trên là dãy núi Phay Sỉ

cao ngất, phía dưới, con suối Tha Ly gồ ghề, nhấp nhô miên man đá.

Nước chảy róc rách, bốn mùa chim kêu vượn hót. Có lẽ xưa kia các cụ

đặt tên làng “Cùng ” là vì thế!?

Phía bờ sông bên kia là trại giam. Từ làng Cùng nhìn sang, chỉ thấy

bịt bùng dây thép gai giăng trên những bức tường cao lù đen mốc. Chiều

đến, tiếng kẻng báo hết giờ lao động và tiếng còi điểm danh quân số tù

nhân vọng sang rõ mồn một. Nhiều hôm, nửa đêm nghe tiếng súng nổ đì

đòm, biết là có phạm nhân trốn trại ... Nhà nước cũng đã tốn công khảo

sát lắm mới thiết kế được một nơi giam giữ những kẻ phạm tội "cách ly

đời sống xã hội" cho thật đúng nghiã.

Vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, một số người vùng xuôi nghe

theo chủ trương của Đảng lên khai khẩn ở vùng này. Ban đầu cũng thành

lập một “hợp tác xã” hẳn hoi nhưng vì xa phố huyện, đường xá gập

ghềnh, làm ăn thì lụn bại, sau xé lẻ, nhà nào biết nhà ấy. Huyện cũng

“quên”luôn. Có cán bộ nào dám đi vài chục cây số đường rừng mà đến chỉ

đạo, mà có ai mà chỉ đạo? Mấy chục năm rồi mà làng vẫn vắng teo. Đặt

tên là bản Cùng không được vì toàn người Kinh ở. Nên người ta vẫn gọi

là xóm hoặc làng Cùng cho ra vẻ một làng quê ở dưới "xuôi". Thanh niên

nam nữ, có anh chị nào, lớn lên là lập tức rời khỏi làng đi nơi khác.

Đàn bà quá lứa thì đi xuất khẩu lao động, thành thử trong xóm bây giờ

chỉ trơ khấc mấy ông bà già sống bằng tiền con cái đi làm xa gửi về

cùng với việc hái lượm dưới chân núi Phay Sỉ.

Thông ở cùng mẹ già ngoài bảy mươi, cha chết vì một cơn sốt rét ác

tính từ khi còn rất bé. Năm nay đã bước sang tuổi “băm”, là đứa con

gái cao tuổi nhất chưa có chồng ở cái xóm núi heo hút này.

Thông bị tật từ nhỏ. Bàn chân phải quặp vào bên trong nên đi cà nhắc.

Mỗi khi kéo cái chân phải lên thì tay trái lại huơ ra phía trước giật

vào như là đang gặt lúa.

Đúng là tạo hoá khéo sắp đặt, bù vào cái chân dị tật ấy lại đi theo

một khuôn mặt hiền dịu cùng với đôi mắt lá răm bí ẩn, bộ ngực đầy đặn,

cổ cao trắng nõn nhấp nhô cặp vú tròn căng. Giá không tật nguyền thì

làm gì cô ta còn ở cái xóm này? Cô đã bay sang Đài Loan hoặc chí ít là

Hàn Quốc làm ô sin để khi trở về xây cái biệt thự mấy tầng sang trọng

từ lâu rồi!

Việc cô Thông có chửa với ai vẫn là đầu đề của câu chuyện của mấy mụ

già hay ngồi lê đôi mách. Người ta khẳng định như đinh đóng cột rằng

không thể chửa với mấy cái ông lão ngoài bảy mươi suốt đêm ho khù khụ

và cũng không thể chửa với con vượn núi như trong truyền thuyết về vua

Lê đại Hành được!? Vậy thì cái cô gái quá lứa lỡ thì ở cái xóm núi hẻo

lánh bốn mùa sương phủ đó chửa với ai, vẫn đang là điều bí ẩn.

Gần đến tháng sinh nở, Thông đi lại có vẻ khó khăn hơn. Nhà neo người,

cô cố gắng lo toan mọi việc. Trông gương mặt cô vẫn bình thường như

những người phụ nữ mang thai sắp đến kỳ sinh nở: Hơi sốt ruột, thoáng

chút lo lắng nhưng tự tin, đôi khi hay mĩm cười một mình, ánh mắt ngời

lên một niềm hạnh phúc vì sắp được bế trên tay một sinh linh bé bỏng.

Nhưng quan trọng nhất là được làm mẹ, điều mà bất cứ ai là phụ nữ cũng

đều khao khát.

Thông trở dạ vào một đêm trăng sáng. Khi bà đỡ đón thằng bé con ra

khỏi cái cơ thể người mẹ bê bết máu thì bất thình lình có tiếng súng

nổ đì đòm bên phía trai giam. Chắc lại có chuyện tù nhân trốn trại?

Chỉ trong một khoảnh khắc, phía bên này, một sinh linh bé bỏng chào

đời, phía bên kia một kẻ trốn khỏi nơi giam giữ để đi tìm tự do.

Thằng bé khóc to lắm, khóc như oan như ức điều chi, cứ như xé vải.

Tiếng nó khóc dội vào vách núi, từ vách núi, âm thanh phản hồi trở

lại, vang động cả một vùng. Ở cái nơi heo hút này, tiếng trẻ khóc chào

đời mới thiêng liêng và hạnh phúc biết bao! Ôi làng Cùng! Từ nay sẽ có

thêm một công dân mới, rồi đây, cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau, số

phận mẹ con nhà nó vẫn đang còn ở phía trước...Nhưng trước mắt, một

cuộc sống mới đã bắt đầu.

Sáng hôm sau, Thông nằm ôm con, bụng nóng như lửa đốt. Linh tính báo

cho cô biết, tiếng súng nổ đêm qua có liên quan đến Nam. Anh ấy liều

lắm, đã nói là làm. Nam đã từng hứa với Thông khi sinh nở, Nam sẽ bên

cô. Đêm nay, đúng như cô dự đoán, thằng Bắc, con anh sẽ chào đời. Chắc

là Nam trốn không thoát cho nên mới có tiếng súng bắn chỉ thiên vào

đêm tối kia. Cầu trời khấn phật đừng có việc gì sẩy ra đối với anh ấy.

Nam ơi! Anh là một người tốt nhất trên đời mà em được gặp. Nam ơi!

Đừng bỏ em nghe anh...

Cô hình dung lại cái lần gặp gỡ định mệnh ấy.

Hơn chín tháng trước đây, Nam cùng với muời mấy người bạn tù được trại

giam cho chống mảng sang dãy núi phía bên làng Cùng chặt gỗ. Nam là

một phạm nhân can án giết người. Án phạt mười tám năm, Nam thụ án được

mười sáu năm. Thường những tù nhân sắp hết hạn được ban quản giáo cho

ra ngoài khu trại giam lao động, gọi là tù nhân “tự giác”.

Buổi chiều hôm ấy, sau khi đã chặt được mấy cây gỗ to đang kết bè đưa

về trại thì một cơn lũ lớn ập về. Nước ào xuống bất ngờ đến nỗi Thông

đang chăn dắt mấy con bò không kịp chạy liền bị lũ cuốn theo. Thông

không kịp kêu cứu, hai tay chới với giữa dòng lũ xiết. Từ phía trên,

một người đàn ông mặc áo tù nhân lao xuống dòng chảy không chút do dự.

Khi Thông đang chìm dần, thì cảm giác có một cánh tay đang bế ngang

người Thông nâng bổng lên. Thông vội dơ hai tay yếu ớt ôm lấy người ấy

rồi sau đó không còn biết gì nữa.

 

Thông tỉnh dậy, thấy mình đang nằm gần như trần truồng bên đống lửa,

cạnh một ngưòi đàn ông lạ mặt mặc áo tù nhân. Cô hoảng hốt định hét

lên thì bên tai nghe giọng nói rất trầm ấm:

- Không việc gì phải sợ! Hôm qua cô bị lũ cuốn, tôi phải vất vả lắm

mới đưa được cô lên bờ. Quần áo ướt hết, tôi đã hong khô.

Người đàn ông quẳng bộ quần áo cho cô và nói như ra lệnh: - mặc vào

đi, không bị cảm lạnh bây giờ!

 

Họ đã ở bên nhau trong một cái hang khá rộng rãi suốt mấy ngày liền.

Nam kể cho Thông nghe về cuộc đời của anh. Nam mồ côi cha từ bé. Mẹ đã

vất vả lắm mới nuôi được anh ăn học. Năm thứ tư đại học thì một sự cố

đã làm đảo lộn cuộc đời anh.

Vì luôn phải vay nợ để gửỉ tiền cho con, mẹ anh đã nợ lão giám đốc

ngân hang về hưu rất giầu có số tiền lên đến năm mươi triệu. Một lần

trở về nhà muộn, vô tình đứng ngoài chứng kiến cuộc đối thoại giữa mẹ

và lão già đó trong gian nhà chật hẹp của mẹ con anh.

- Tôi không thể cho cô khất thêm được nữa. Hôm nay, bằng bất cứ giá

nào, cô phải thanh toán cả gốc cả lãi cho tôi. Tổng là năm mươi triệu,

không kém một xu!

Mẹ anh vừa khóc, vừa van xin :

- Xin ông cho mẹ con tôi khất thêm một năm nữa. Cháu nó học sắp xong

rồi! Cháu học giỏi, ra trường chắc là xin được việc làm. Mẹ con em xin

hoàn trả cho cho ông.

Lão già cười hềnh hệch:

- Tôi cóc cần chuyện con cô học giỏi hay không giỏi, tôi chỉ cần cô

trả nợ cho tôi. Còn chưa có tiền trả lãi thì...

Hắn lao vào định làm nhục mẹ anh, nhưng gặp phải sự chống cự quyết liệt.

Và anh, một người con hiếu thảo vì cứu mẹ mình, đã can án giết người!

Người ta bỏ qua hành vi cưỡng hiếp của lão giám đốc ngân hàng về hưu

kia không biết vì lý do gì!? Còn Nam, phạm tội với hành vi“cố ý giết

người”, lãnh án mười tám năm...

Nam đoán chắc những người đi cùng với mình sẽ về báo cáo với ban giám

thị trại giam là mình đã bị lũ cuốn. Làm sao mà thoát được giữa dòng

thác lũ hung dữ như vậy?

Người ta chỉ cần thông báo về địa phương là phạm nhân Phan Hoài Nam bỏ

trốn, bơi qua sông và mất tích là xong. Đây là cơ hội cho Nam được tự

do.

Nhưng với Thông, cô lại không nghĩ như vậy, cô khuyên Nam nên quay lại

trại, thụ án nốt hai năm, hứa khi anh mãn hạn tù sẽ theo anh về quê ra

mắt người mẹ già đang ngày đêm vò võ ngóng chờ thằng con trai yêu quý

của bà. Bà sẽ hạnh phúc biết bao khi được bồng đứa cháu nội trên

tay...

Nam dặn dò Thông là gắng đợi anh. Bằng giá nào, khi Thông sinh con sẽ

báo cho anh để anh được bên người vợ hiền khi vượt cạn, dù là gái hay

trai cũng đều đặt tên là Bắc. Cha bờ Nam, con bờ Bắc mà!

Đêm thằng Bắc ra đời, Nam nằm trong trại giam như nghe rõ tiếng khóc

của nó, lòng người cha xốn xang không bút nào tả xiết. Vì là “tù tự

giác” Nam được giam nới lỏng ở phía ngoài chứ không phải nằm trong khu

“biệt giam”. Ban ngày đi làm, anh đã quan sát, phía bờ sông có một

quảng sông lở rất sâu vào bờ trông như một cái “vịnh” nhỏ. Ban giám

thị trại cho rào một hàng rào sằt bao ra tận mặt sông. Cái “vịnh” là

nơi tù nhân vừa tắm rửa, vừa là nơi xuống gánh nước tưới cho cây cối

quanh khu nhà ở của cán bộ quản giáo. Chỉ cần lặn một hơi qua cái hàng

rào sắt đó là anh có thể đến bên người vợ hiền và đứa con thơ bé bỏng

của anh.

Anh lẳng lặng rời khỏi những người bạn tù ngày làm nặng nhọc giờ đang

ngủ say như chết, nhẹ nhàng trườn về phía cái vịnh lờ mờ ánh điện.

Nam có tài bơi lội, nhất là môn lặn. Ở trường đại học, bốn năm liền

anh đạt danh hiệu vận động viên bơi lội xuất sắc. Khi lặn xuống đáy

lớp hàng rào, anh mới biết mình nhầm thì đã muộn.

Hàng rào sắt được điều khiển bằng từ tính. Ở lớp dưới cùng hàng rào

sắt, người ta luồn những sợi thép nhỏ nối với một rơ le. Nếu phạm nhân

nào có ý định trốn trại, lặn qua lớp rào ngăn cách sẽ bị vướng và kéo

căng những sợi thép nhỏ kia. Bị ngắt điện, từ tính mất tác dụng, hàng

rào sẽ sập xuồng ngăn cách giữa khu vực vụng và phía ngoài sông.

Như trên đã nói, vì Nam lặn rất giỏi, cho nên mãi khi đến chân hàng

rào sắt mới đụng phải các sợi dây thép nhỏ giăng ngầm phía dưới. Bởi

thế, khi anh đang lặn dưới chân hàng rào thì hệ thống rơ le mới làm

việc... Phập! Nam như một con cá bị thỏi sắt xuyên ngang chuẩn bị đưa

lên lò than để nướng. Anh quằn quại đau đớn dưới đáy sông sâu. Khi đó

trên bờ, người ta mới phát hiện thiếu một phạm nhân. Tiếng súng báo

động cùng với tiếng khóc thét của đứa con trai vừa chào đời cũng là

giây phút cáo chung của cuộc đời anh.

Ngày hôm sau, một cơn lũ lớn từ thượng nguồn đổ về, hàng triệu tấn phù

sa trôi qua đã vùi lấp vĩnh viễn xác tên tù nhân xấu số.

* *

Thời gian thấm thoát trôi qua, thằng bé con chào đời vào cái đêm cùng

với một phạm nhân trốn trại đã sáu tuổi. Thằng bé mặt mũi khôi ngô, da

dẻ trắng trẻo như con trai thành phố. Nó đã vào lớp một, hàng ngày mẹ

nó đèo xe đạp qua chiếc cầu treo mới được bắc từ làng Cùng sang bờ

sông phía trại giam theo "chương trình 135" của chính phủ. Trong lớp

nó học, có cả con các phạm nhân.

Sáu năm trôi qua, thằng bé cứ lớn lên trong vòng tay ôm ấp của mẹ nó.

Nó đâu có biết rằng cái đêm nó cất tiếng khóc chào đời, ở phía bờ sông

bên kia, sau lớp hàng rào sắt, cha nó – Tên tù nhân mặc áo số 53037 đã

trốn nơi giam giữ để sang với nó nhưng số phận phủ phàng đã phải nằm

vĩnh viễn dưới lớp rào sắt. Trước khi giã biệt cõi đời chỉ thốt lên

được một câu : Con ơi! Tiếng gọi tuyệt vọng của người cha thoát ra

theo những bọt nước lục bục từ dưới đáy sông sâu thăm thẳm.

Và mẹ nó, người đàn bà xóm núi vẫn sống âm thầm trong sự chờ đơi. Cứ

mỗi chiều khi tiếng kẻng báo hiệu hết giờ làm việc của tù nhân, cô lại

đăm đắm ngóng sang phía trại giam. Đêm nào bờ sông bên đó có tiếng

súng nổ, người cô cứ giật thon thót, mồ hôi vã ra như tắm...

 

24/8/2011

 TTa


VĂN NHÂN NGÀY LỄ VU LAN

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 10:56

Bà ngoại tôi, người bà để lại trong anh chị em chúng tôi nhiều kỷ niệm khắc cốt chi xương.Chúng tôi lớn lên, trưởng thành phần lớn là công lao của bà.Nhân ngày lễ Vu Lan, tôi đăng bài của anh trai tôi viết về bà để ghi nhớ công ơn trời bể về người bà kính yêu.

                                      alt     

                                                          BÀ NGOẠI

                                                       (TRUYỆN KÝ)

              NGUYỄN LÂM DIỄM

  Bà nội tôi mất khi các anh em cha tôi còn bé nhỏ.Khi chúng tôi ra đời, ông nội tôi cũng đã mất từ lâu.Chúng tôi không biếtmột tý gì về Người.Ông ngoại tôi cũng vậy.Người mất khi mẹtôi còn bé nhỏ.Mẹ tôi không kể cho chúng tôi nghe về ông.Cólẽ trong ký ức của mẹ tôi lưu lại quá ít về người cha của mình.Chúng tôi chỉ được sống và lớn lên trong cánh tay ôm ấp của bàngoại.Đối với chúng tôi, bà là tất cả.

  Nhà ngoại tôi ở làng Võ liệt, huyện Thanh Chương.Thời nhà Trần có tên là Thổ Ngoa.Thời nhà Lê đổi thành Võ Liệt  (1589).

Làng nằm bên bờ hữu ngạn sông Vũ Giang.Con sông bé nhỏ trong xanh chạy dài từ làng Xuân Trường đến bến đò Quan.Xa xa, phía Đông – Nam, núi Hoàng Bảng từ Tam Thai chạy ra, sừng sững, chót vót làm cho cảnh quan làng Võ Liệt thêm kỳ vĩ.

  Nhà ngoại tôi nhỏ hep, ba gian nhà lợp lá cọ nằm dối diện với nhà cậu cả.Bên trái là nhà thờ cụ ngoại tôi.Nhà thờ lưu giữ nhiều kỉ vật còn sáng sủa, nguyên vẹn.Những đôi câu đối của Sứ thần Cao Ly, của các bạn đồng liêu cung tiến.Còn đây chiếc nón, thanh gươm và chuông đồng thời đi sứ Thanh triều ( thời Tự Đức) ngót nghét 1,5 thế kỉ.Sách Đại nam liệt truyện (Quốc sử giám triều Nguyễn)Nhà xuất bản Thanh Hoá (trang 292, 293) viết về cụ: “Sỹ Thục làm quan 40 năm, trong cái nhà tranh vách đất, hũ gạo luôn luôn bị rỗng không mà vẫn thản nhiên như không.Có người hỏi rằng: “Làm quan mà vợ con đói rét, chẳng phải là kiểu ư?”.Thục nhân thuật lại lời của ông cha rằng:” đời nên được dân yêu, không nên làm cho dân s, làm quan cần phải thanh liêm để không thẹn cái tiếng khoa bảng.Ch thấy nhà nghèo mà đổi tiết tháo.Vì vậy chung thân không giám sai lời”.Khi giảng dạy học trò, ăn mặc, tới lui cụ đều nghiêm theo lễ phép.Ngoài kinh sach ra, thiên văn, địa lý, bói toán không gì cụ không nghiên cứu.Cụ để lại nhiều sách, thơ, phú.Cụ là một nhân cách lớn, cứng cỏi, mang nét đặc trưng của con người xứ Nghệ.Đi sứ Trung Quốc, trong buổi vua Đồng Trị chiêu đãi các sứ thần, nhà vua ra đề thơ về rượu để thử tài và thăm dò các sứ.Ngồi bên cạnh sứ thần Cao Ly và các sứ thần khác, mọi người bàn về chuyện uống rượu.Có người khen Lưu Ly( đời Tần) với bài: “Tửu đức tụng”.Có người khen Khuất Nguyên (đời Sở) thiên hạ say, một mình tỉnh, ôm hận nhảy xuống sông Mịch La.Tiến sỹ Thục ứng khẩu đọc: Trường tuý mai lưu linh// Độc tỉnh trầm Khuất Bình / Nam nhân thiện ẩm tỉnh / Bất tuý diệt bất tỉnh.(Ý là: Lưu Linh say dài / Khuât Nguyên riêng mình tỉnh / Người Nam giỏi uống rượu / Không say cũng không tỉnh).Thâm thúy và sâu sắc đến thế là cùng !

  Những ngày hè oi bức gió Lào, nhà ngoại nóng nực trong cái lò chật chội.Tôi hay lẻn vào nhà thờ nằm đọc sách và chơi một mình, thỉnh thoảng có cô cháu nội của cậu tôi vào chơi cùng.Chúng tôi chơi ô ăn quan, chơi cờ.Con cờ là các nụ hoa.Có lần tôi đang đu đưa trên cành cây, hái trộm nụ hoa.Cậu tôi, quan Tuần phủ lấy gậy chọc vào mông đau điếng mà không giám khóc.Nền nhà lát gạch đỏ, phẳng lỳ, sạch bong, yên ắng và mát mẻ.Chúng tôi tha hồ lăn lóc, mải mê, không muốn về nhà.Mỗi lần bà ngoại tôi cần tìm chỉ việc mở cửa ra là có tôi ở đấy.

  Ông ngoại tôi là con trưởng.Bốn thế hệ ở chung một nhà.Tứ đại đồng đường xưa nay hiếm.Ông có hai đời vợ.Người vợ đầu sinh được một trai một gái thì bà mất.Bà thứ hai là bà ngoại tôi.Bà người ở huyện Đức Thọ.Trước khi lấy ông ngoại tôi, bà đã có người chồng trước, sinh được cô con gái, gần tuổi thì ông mất.Gia đình nhà chồng tranh chấp tài sản.Bà kiện.Bà giỏi chữ Hán, tự viết đơn đi kiện.Mất gần mười năm mới kết thúc.Ông ngoại tôi phải chờ bà mất mười năm kiện tụng và hơn năm năm để con gái bà lấy chồng.Mười lăm năm chờ đợi.Hai ông bà mới về ở với nhau.Có lẽ vì thế, khi sinh mẹ tôi và cậu Út thì ông đã già lắm và bà cũng ngoài ba mươi.Cha già, con cọc, việc chăm sóc, dạy bảo con cái chủ yếu do bà.Lên sáu tuổi, mẹ tôi mất cha.Cậu Út cũng bỏ bà và mẹ tôi về với tiên tổ.Bà ngoại chỉ còn mẹ tôi là người con gái duy nhất với ông ngoại nên các cậu tôi ai cũng cưng chiều.

 Ngoại tôi, lưng còng sát đất.Dân làng thường gọi là cố Nho.Cố Nho đi đôi guốc mộc, quai thắt bằng sợi mây.Chiếc gậy tre dài gấp hai lần chiều cao của cố.Tiếng gậy nện xuống mặt đường lọc cọc.Tiếng dép lẹp khẹp, đều đều vang lên khô khốc.Thứ âm thanh lạ lùng ấy sao vang xa và buồn tẻ đến thế.Nó hoà cùng cuộc sống âm thầm, lặng lẽ, cô đơn…kéo dài đến vô tận, đến hết cuộc dời cố.

  Lên sáu tuổi, mẹ tôi đã phải ngồi vào khung cửi.Hai chân chưa chạm tới  bàn đạp kéo go.Chân trái đạp go, người phải rướn lên đưa thoi từ phải sang trái.Chuyển sang chân phải đạp go, người lại dướn lên đưa thoi từ trái sang phải.Cứ như thế, ngày nọ kế tiếp ngày kia, tháng nọ qua tháng kia...Mẹ tôi lớn lên bên khung cửi.

  Lên mười tuổi, mẹ  tôi theo bà làm hàng xáo.Hết chợ Phủ đến chợ Rộ.Tối về, mẹ ngồi vào khung cửi.Bà sàng gạo đến tận khuya.Phụ giúp bà có vợ chồng chú Hộ.Chú nhà nghèo, ở với bà từ nhỏ.Người chú thấp, đen.Hiền lành.Tốt bụng.Trung thực.Vợ chú trắng trẻo, mập mạp, xinh xắn.Tội nghiệp cho chú, hai vợ chồng lấy nhau hơn mười năm chưa có con..Nghe đâu, sau này họ cũng sinh được mấy người.Ở hiền gặp lành, ông trời bảo thế.

  Chợ Phủ cách nhà ngoại tôi chừng cây số.Chợ không to nhưng buôn bán tấp nập.Hàng hoá chủ yếu là hàng trao đổi như thóc, gạo, lợn, trâu bò và hàng lâm sản...Cạnh chợ là đền Bạch Mã, thờ tướng Phan Đà, một vị tướng tài của nghĩa quân Lê Lợi.Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh được Lê Lợi ban cho ngựa trắng và áo giáp bạc.Ông hy sinh ở tuổi mười tám tại thành Bình Ngô.Cuộc kháng chiến thắng lợi.Lê Lợi lên ngôi vua (năm 1428).Lê Lợi cho xây đền thờ ở quê hương ông, sắc phong ngài là:Đô thiên đại đế Bạch Mã thượng đẳng phúc thần.Hàng năm, vào ngày 13 tháng 6 (âm lịch) là ngày giỗ ngài.Sau năm 1945, đền thờ bị lãng quên, không ai thờ cúng.Đến cải cách ruộng đất thì bị phá hủy.Đã một lần, tôi được theo bà ngoại đi xem hội, xem vật cù ở đền.Song hồi ấy bé quá, không lưu lại được gì trong kí ức.Bây giờ đền lại được nhân đân khôi phục.Khách thập phương lại tìm về hương khói.Chỉ tiếc rằng quy mô chưa được như xưa.

  Chợ Rộ, chợ nằm sát bên bờ sông Lam.Về mùa khô, nước sông Lam trong vắt, chảy hiền hoà, len lỏi giữa các bãi và thoi đất bồi mơn mởn ngô, khoai, rau cải, dưa hấu...Dòng sông như giải lụa trải dài xanh ngắt.Những cánh buồm nâu xuôi, ngược.Những bè gỗ xuôi dòng...Nhìn sông Lam lúc chiều tà, sương mờ mầu lam khói tôi nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch :Cô phàm viễn ảnh bích vô tận/ Duy kiến trường giang thiên tế lưu.Nhà thơ Nguyễn Hà dịch khá hay:Cánh buồm xa hút xanh vô tận / Mênh mang sông chảy giữa chừng mây.

  Chợ Rộ trên bến dưới thuyền.Thuyền chở chè xanh, lâm sản từ thượng nguồn sông Giăng xuống.Thuyền chở nước mắm, cá, tôm, ruốc từ cửa lò, cửa Hội lên.Thuyền chở khách ngược xuôi sông từ chợ Trù, chợ Ú, chợ Vịnh, chợ Tàu về chợ Rộ.Vào thời ấy, chợ Rộ là nơi giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá.Bán con gà, mua mớ rau ; bán quả mít xanh mua chai nước mắm ; mua tơ bán lụa, mua vải bán kén, bán tằm, mua tò he cho trẻ nhỏ, mua tấm bánh cho mẹ già…Trai thanh gái lịch xem mặt nhau, phải lòng nhau, hẹn hò để rồi nhờ người mai mối.Cha tôi cũng về đây chơi chợ để xem mặt cô hàng xáo, tuổi vừa trăng tròn, cháu nội quan Thượng thư họ Phan Sỹ danh tiếng một thời.Họ nên vợ nên chồng từ ngày ấy.Chợ Rộ cũng là nơi các chị tôi theo bà ngoại buôn bán, tiếp nối công việc của mẹ tôi hồi nhỏ.

 Chợ Rộ, ngoài sự buôn bán tấp nập, ồn ào, náo nhiệt, mua mua, bán bán còn có một mạch ngầm sâu thẳm.Cái mạch ngầm ấy là linh hồn của chợ.Cái linh hồn thầm kín, sâu thẳm ấy, chỉ có những trai thanh, gái lịch như cha mẹ tôi hồi ấy, như các chị tôi sau này mới cảm nhận được.Cái linh hồn ấy phải chăng là văn hoá chợ vùng quê đặc trưng xứ Nghệ ?

  Chợ Rộ cũng như chợ của các miền quê trên mọi miền đất nước.Song, để có một cái chợ mà ta gửi gắm vào đó nỗi niềm của mình, là chợ mà ta cảm nhận được cái mạch ngầm tuôn chảy, thì đó mới là cái chợ họp mãi trong ta. Chợ mà mỗi lần qua đó, hình ảnh cố Nho đi đôi guốc mộc luôn hiện hữu trong tôi.Chợ Rộ của riêng tôi !

                                                                 Hà Nội 2010

                                                                       NLD

 


THƠ NHÂN NGÀY LỄ VU LAN

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 10:43

 

alt

MẸ TÔI

(Kính dâng mẹ nhân ngày lễ Vu Lan)

 

Cầm tiền trong túi mẹ tôi

Hai bàn tay ấm áp

Đời mẹ thấm vào đây

Mồ hôi

Nước mắt

 

Đồng tiền đặt trước mặt tôi

Mặt phải nở xòe hoa

Mặt trái bật lên tiếng nấc

Mẹ

Tôi

Hay đời khóc ?

 

Lật đồng tiền

Mẹ tôi phía trước

Tôi phía sau

Hai mặt đồng tiền đắp đổi cho nhau

 

Hải Phòng 1997

NGUYỄN LÂM CẨN

 


TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN LÂM DIỄM

Thơ — Viết bởi nguyenlamcan @ 21:30

      alt                           

  ĐÊM TRẮNG

 Thỉnh thoảng lắm tôi mới gặp chị lên xuống cầu thang một mình.Nhỡ gặp chị, tôi thường dừng lại ở chiếu nghỉ nhường chị đi trước.Tôi đi chậm nên không thể đi song hành để hỏi han vài câu. Chị chào và xin phép đi trước. Tôi chỉ kip nhìn sau tấm lưng dài, thẳng, đầu lúc nào cũng cúi về phía trước, kéo mái tóc cắt ngắn cao lên, lộ gáy cổ cao và trắng (Mẹ tôi thường bảo: con gái gáy trắng thường dịu dàng, đoan trang. Tôi cũng cảm nhận điều đó ở chị). Chiếc  áo thể thao màu đỏ, mang số mười bốn, vai khoác vợt cầu lông. Chờ chị lên hết cầu thang, mở khóa vào nhà, tôi nhìn ngắm chị kỹ hơn: cao, vai rộng, đôi tay để trần rắn chắc.Tôi tin, chi là dân thể thao có hạng. Chuyên nghiệp hay không thì tôi không giám chắc.

Cô con gái, tuổi mười lăm, không đẹp như mẹ, đeo cặp kính cận dày cộp, gầy gầy, ngăm ngăm đen.Chiếc điện thoại thường trực trên tay, bấm nhoay nhoáy, bất kể lên hoặc xuống cầu thang, cái mốt của bọn trẻ thời hiện đại.

 Từ ngày chị về ở đây, cứ đêm về khuya, tôi nghe tiếng đàn dương cầm ở tầng dưới vọng lên. Âm thanh lúc thánh thót, lúc nhẹ nhàng, thiết tha, bay bổng, như tiếng nước chảy róc rách, có lúc đang ầm ào như thác đổ bỗng lặng xuống thì thầm, rời rạc như giọt mưa thu rơi trên lá.Tiếng đàn những đêm khuya ấy làm lòng tôi xao xuyến.Tôi muốn biết về chị nhiều hơn.

Những người sống trong chung cư, hầu hết là trí thức.Hết giờ ở cơ quan, tối đến, cửa đóng then cài. Họa chăng, gặp nhau ở cầu thang, chỉ gật đầu chào nhau rồi đường ai nấy đi. Không ai vào nhà ai, không ai trò chuyện với ai. Các bà vợ của các ông trí thức cũng mang cái 'tật" đàn bà.Đã là đàn bà thì hay chuyện.Gặp nhau ở cầu thang, chuyện. Kéo vào nhà nhau, chuyện. Riêng chị, không thấy các bà nhắc đến, có lẽ chị còn trẻ, cách lòng với các bà.

Bà vợ ông giáo sư ở căn hộ bên cạnh, người hay chuyện nhất cũng chỉ thấy chị khi một mình, khi hai mẹ con đi, về, mở, đóng khóa và tiếng đàn vọng ra. Bà cũng chịu, không biết cả tên mẹ, tên con. Không thấy người đàn ông nào vào ra nhà chị.

Chị thuê thợ sửa nhà, vận chuyển vật liệu, vào ra, im ắng trong tấm cửa đóng im ỉm. Bà hàng xóm cũng chịu, lắc đầu, không hiểu hai mẹ con đục phá, sửa chữa gì trong căn hộ ấy.

Một dịp hiếm hoi, tôi vừa về đến chân cầu thang, thấy chị đang còng lưng đấy chiếc xe máy chạy điện mới coong, Nhật xịn. Tôi giúp chị đấy lên cầu thang. Tôi hỏi chị: “Sao chị lại đẩy một mình, không có ai giúp ?”. Chị trả lời trong hơi thở hổn hển: “Cháu gái của bác đang đi học, Chỉ có hai mẹ con nên phải làm một mình”. “Thế cháu học trường nào hở chị”.Tôi hỏi chị cũng trong tiếng thở gấp.Vừa đến chiếu nghỉ vào nhà, chị chống xe, nhìn tôi, tươi cười trả lời : “Cảm ơn bác, cháu học ở Học viện âm nhạc từ khi mới bảy tuổi . Tiện thể xin mời bác vào nhà nghỉ một lát ạ”. Lưỡng lự một chút, tôi nhận lời và hỏi chị: “Tôi vào nhà, có làm phiền cho chị không?”. Chị vui vẻ trả lời; “Bác cứ tự nhiên, nhà cháu tuy không có đàn ông, nhưng với bác chẳng có điều gì ngại đâu ạ”.

Căn hộ vừa được sửa sang rất đẹp.Phòng ngủ của cô con gái rộng, chiếc dàn pyano choán mất nửa phòng, cạnh cửa sổ.Phía dưới cửa sổ căn hộ của tôi. Chả trách, tôi ngồi nghe tiếng đàn rõ nét đến thế.Chị dẫn tôi đi xem bếp, phòng ngủ của chị. Tất cả đều sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp và chăn đơn gối chiếc. Bàn thờ có ba bát hương.Chị bảo ở giữa là thờ ba mẹ cháu, bên phải thờ tổ cô, bên trái thờ thổ công.Thấy tôi lặng nhìn, chị bảo:“Chuyện của cháu dài lắm, sợ bác không muốn nghe. Nếu như bác không bận gì, mời bác ngồi chơi. Cháu gái bác thường bảo: “Bác gì ở trên nhà mình trông phúc hậu thế, như ông ngoại nhà mình mẹ nhỉ.Lát nữa, cháu về đàn cho bác nghe".“Thế, những buổi tối, khi đêm đã về khuya, chị đàn chứ không phải cháu gái đàn chứ ?”. “Thế bác phân biệt được sự khác nhau giữa các bản đàn sao?”. “Chị ạ, những bản đàn lúc đêm khuya, hầu như người đàn có nhiều tâm sự. Tôi nghĩ đấy là chị đàn, không phải cháu gái”.“Bác tinh tường lắm, những đêm về khuya, em hay đàn (chị thay đổi cách xưng hô), để gửi nỗi lòng mình vào vũ trụ bao la, để quên đi tất cả nỗi đau của quá khứ, của cuộc sống thường nhật. Nếu như bác cảm nhận được. Em rất biết ơn bác. Trên đời này còn có tri âm. Đã là tri âm, không phân biệt tuổi tác, cho phép em được xưng hô như vậy, không làm phật lòng bác chứ?”. Chị nói đầy xúc động. Có lẽ tâm trạng của tôi đồng điệu với em. Cả một đời loay hoay đi tìm cái riêng cho mình. Tìm mà không được. Giờ đã ở tuổi thất thập vẫn hoàn không. Có lẽ không phải chỉ riêng mình.Phong trần là chốn đọa đầy của những giai nhân mặc khách. Chỉ đến khi nhận biết chân lí của đạo Phật “Sắc sắc không không”, mới cảm thấy lòng mình thanh thản đôi chút. Em gửi nỗi lòng mình vào tiếng đàn.Tôi cảm nhận được tiếng đàn của em. Âu cũng là trời cho ta một giải thoát mà ít người cảm nhận được.Đang dở dang câu chuyện thì cô con gái về.“Cháu chào bác ạ!"  Tôi hỏi lại cháu: “Sao cháu không chào ông mà lại chào bác, bác bị xuống cấp từ bao giờ thế ?”.“Mẹ cháu bảo chào ông cách biệt quá, cháu chào bằng bác cho gần.Có đúng thế không hở mẹ ?”.Cô bé nhìn mẹ vừa cười vừa nói.Thì ra, tôi được hai mẹ con chị ưu ái, coi là người gần được, không đáng xa cách.Tôi bảo cháu :“Bác đã nghe cháu đàn rồi và nghe cả mẹ cháu đàn nữa.Bây giờ hai mẹ con cháu nấu cơm ăn, nghỉ trưa rồi chiều đàn cho bác nghe”.Cô bé tròn mắt, hết nhìn tôi rồi nhìn mẹ, hỏi: “Thế cháu và mẹ cháu đàn cho bác nghe từ bao giờ ạ ? ”.Chị cười, nhìn tôi rồi bảo con gái:“Con ngốc ạ, bác không những nghe mà còn phân biệt được tiếng đàn của con và của mẹ cơ đấy.Bác nghe tiếng đàn của mẹ con ta hàng ngày và hàng đêm đấy” Cô con gái quay sang hỏi tôi để xác minh lời mẹ: “Thật thế hở bác”. Tôi cười, bảo cháu: “Mẹ cháu nói đúng đấy.Bác hay ngồi làm việc ở cửa sổ, phía trên cửa sổ phòng cháu, bác thích nghe nhạc, nên đã nghe gần hết các bản đàn của mẹ con cháu”.Cô cháu gái bỏ cặp kính cận, đưa tay dụi mắt.Chị vội đưa khăn lau cho cô con gái. Tôi xin phép chị và chào cô cháu rồi ra về. Không để cho mẹ nói, cô cháu bước lại gần và bảo: “Lúc nào rỗi, bác đến nhà cháu, chắc mẹ cháu còn nhiều điều chưa tâm sự hết với bác. Mẹ cháu có cháu nhưng cô đơn lắm bác ạ”. Cô con gái bắc tiệp nhịp cầu cho mẹ cháu và tôi. Tôi cảm ơn và nhận lời cháu.

Mặc dù vậy, tôi cũng không thể tùy tiện, muốn đến nhà chị bao giờ cũng được.Tôi không thể học cụ Nguyễn Công Trứ, đắp chiếc mo cau vào đít bò để che miệng thế gian.Thỉnh thoảng mới gặp chi và cô cháu gái ở cầu thang, chỉ có câu chào và nhìn nhau bằng cặp mắt thân thiện, cởi mở.Đêm đêm, chị đàn ở cửa sổ tầng dưới, tôi nghe tiếng đàn ở cửa sổ tầng trên: “Tri âm ai đó, mặn mà tri âm”.

Thật ngẫu nhiên, tôi đang lang thang trên bến hồ Núi Cốc thì gặp hai mẹ con chị vừa đến.Hai mẹ con mừng lắm, hỏi:“Bác đi một mình hay đi với ai”.“Thế hai mẹ con đi cùng ai”. Tôi không trả lời mà hỏi lại chị.Chị nhìn con gái rồi nhìn tôi, nói: “Có lẽ hai mẹ con em đi với một người”.Tôi cười, khoác vai cô cháu gái bảo:"Nếu cháu không chê bác già, cháu cho bác nhập bọn với hai mẹ con cháu, được không?”. Cô cháu nhìn mẹ như muốn hỏi.Chị nói với con: “Mẹ không chê bác già, còn con thì sao”..“Ôi mẹ!”. Cô cháu gái kêu lên và kéo tay tôi lại với mẹ.Chúng tôi nhập bọn.

Đêm mười bốn, sáng như gương.Ba người chúng tôi chọn một góc đẹp nhất trên thuyền.Vừa để cho ánh trăng soi tỏ mặt người, vừa ngắm nhìn trọn vẹn cảnh thiên nhiên.Cô cháu chen vào ngồi giữa tôi và mẹ.Cháu bảo: “Cháu ngồi giữa để được hưởng phúc của bác và mẹ”.Cười hy…hy. Tôi cười, hỏi trêu cháu: “Cháu ngồi giữa để bảo vệ mẹ, có đúng không”. Cô cháu quay sang mẹ: “Bác nói thế có đúng không mẹ. Mẹ có cần con bảo vệ mẹ không?”.Chị ôm đầu con gái rồi hỏi lại: “Thế, con không tin bác và mẹ sao”. “Mẹ hiểu con mà, bác là người nhà, mẹ là mẹ của con. Con biết bác trêu con, con trêu lại mẹ cho vui ấy mà.Con thương cả hai người như nhau.Mẹ có đồng ý với suy nghĩ của con không?”. Cô bé quay sang nhìn tôi để tìm sự thỏa hiệp. Tôi không nói gì, nhìn hai mẹ con.Dưới ánh trăng lồng bóng nước, hai mẹ con đẹp như hai mẹ con nàng tiên cá.

Người lái thuyền kể sự tích hồ núi Cốc cho mọi người đi trên thuyền. Ba người chúng tôi đã thuộc lòng sự tích.Câu chuyện của chúng tôi, xoay quanh việc trêu chọc cháu gái.Tôi tận hưởng những phút giây hiếm hoi về tình cảm gia đình.Chị chắc cũng như tôi, đang cố chắt lọc trong những cái đẹp của cuộc sống mà bao năm mình đã mất, đã quên đi, bên cạnh người đàn ông lớn tuổi và đứa con gái bé bỏng của mình.Tôi nắm tay chị, bàn tay êm ấm, nằm gọn trong bàn tay tôi.Cô cháu gái rất nhạy cảm, thông minh hiếm có và tấm lòng rất trong sáng, kéo hai bàn tay đặt vào lòng mình, kêu lên khe khẽ: “Mẹ, bác, Con thật hạnh phúc”.

Khách sạn chìm trong ánh trăng. Hồ, sóng lăn tăn lấp loáng như ánh bạc. Núi đồi mênh mang một màu vàng ánh bạc. Gió núi dào dạt. Cô cháu của tôi mệt, buồn ngủ, lên giường ngủ ngay.Tôi về phòng, tắm rửa xong, nằm mãi không ngủ được.Có tiếng gõ cửa, biết ngay là chị.Chúng tôi rảo bước ra vườn hoa, chọn chiếc ghế đá dưới vòm cây gần giữa sân ngồi hóng gió.“Em biết anh không ngủ.Em muốn tận dụng hết thời gian ở bên anh.Em không là bạn hồng nhan tri kỉ, nhưng em có thể là người tri âm.Em tin anh hiểu được, em muốn gì ở anh.Anh có cảm nhận ở em điều đó không?”.Tôi nắm chặt bàn tay em, ấm áp, mềm mại.“Nếu như anh có thể làm được điều gì đó cho em được vui vẻ, hạnh phúc thì anh sẵn lòng.Anh sẽ không phụ lòng tin của em”. Em nhỏ nhẹ: “Người đời nói đời là bể khổ, em mới đi gần nửa cuộc đời đã hứng trọn gần hết bể khổ ấy.Em không nghèo tiền bạc, cũng có chút tài năng, nhạy cảm và hiểu lẽ đời, song lẽ đời sao lại bạc bẽo đến thế. Sinh ra trong gia đình có truyền thống văn hóa và nghệ thuât.Cha, giáo sư văn chương.Mẹ, giảng viên âm nhạc.Em học đàn dương cầm.Bảy năm cặm cụi với cây đàn tuổi thiếu niên trôi mất từ bao giờ không hay.Đến tuổi thiếu nữ, ra đường, em ngu ngơ, lạc lõng.Đến tuổi trưởng thành, em còn nấp sau váy mẹ, ôm vào lưng cha tìm sự che chở.Cha mẹ là người có tiếng tăm, nhiều chàng trai tìm đến, không biết họ tìm em hay tìm cha mẹ em.Họ đến, em đi, họ đi, em về.Mẹ lo lắng, cha vô tư, bảo mẹ lo gì, hãy tìm một chàng rể trong số con của bạn bè chúng ta cho nó là ổn.Sự vô tư của cha, đem đến cho em một chàng trai, đẹp, có tài, dạy toán ở trường Đại học.Em lấy chồng theo sự sắp đặt của cha mẹ.Chồng em tốt, yêu thương vợ, chăm sóc em rất chu đáo, cẩn thận, kỹ càng như anh giải một bài toán.Em nhận ở chồng sự chu đáo của công việc thường nhật, đơn điệu khô khan như toán học.Cái trái khoáy, cái rốn của bể khỏ là đây.Tối tối, em ngồi vào đàn.Anh cặm cụi vào toán học.Chúng em chỉ ở bên nhau khi đồng hồ chỉ số mười hai, lúc nửa đêm.Sáng, ăn qua loa, anh xách cặp đến trường, em vào nhạc viện cùng với mẹ.Mẹ cùng tâm trạng như em, nhưng cha dạy văn học nên hiểu mẹ, mẹ đàn, cha ngồi nghe say sưa.Mẹ yêu ông.Vợ chồng em ở cùng cha mẹ.Hai gia đình nhỏ, hai cảnh sống ngược chiều.Mẹ hiểu và rất lo lắng cho vợ chồng em.Những tối em ngồi đàn, mẹ hay ngồi cạnh.Mẹ bảo trong tiếng đàn của em mang nỗi buồn da diết.Thở dài, mẹ vuốt tóc em, thẫn thờ, mắt mẹ ướt.

Chồng em đi Pháp làm luận án Tiến sĩ.Anh đi được nửa năm thì Cún con ra đời.Anh biết tin và gửi về cho mẹ con em hai dòng thăm sức khỏe và chúc mừng cha mẹ em có cháu ngoại.Mẹ em cầm bức thư, thở dài, lặng lẽ lắc đầu. Cha vô tư, tự hào về người con rể có chí, nhiều triển vọng tốt.Em ôm con vào lòng, má con hứng trọn hai giọt nước mắt của mẹ.Em nói với con: “Vì cha là nhà toán học mà con”.

Định kì, hai tháng, chồng em gửi cho  hai mẹ con em hai dòng thăm hỏi.Cha em bảo, phải thông cảm cho nó.Bệnh nghề nghiệp mà con.Mẹ không nói gì, chỉ thở dài và lắc đầu.

Bảo vệ xong bằng Tiến sĩ, anh lại gửi đúng hai dòng; “Anh ở lại giảng dạy. Em cố gắng nuôi dạy con, chờ anh về.Cho anh gửi lời thăm cha mẹ”.Cha mẹ em chờ.Hai mẹ con em chờ, định kì hai tháng, nhận hai dòng thăm hỏi.

Cha em sang Pháp dự hội thảo, gặp anh.Hai cha con chỉ gặp nhau mười lăm phút.Anh bảo anh bận.Cha vô tư.Vô tư hay thờ ơ, hai dạng này chỉ cách nhau một dấu chấm.Về nước, cha bảo: “Phải thông cảm cho nó, chăm chỉ làm việc và say mê làm việc là đức tính tốt, cố hữu của các nhà khoa học”.Em trào nước mắt.Mẹ thở dài và lắc đầu.

Mẹ sang Pháp.Trong buổi biểu diễn âm nhạc ở sứ quán, mẹ trông thấy anh ngồi ở hàng ghế thứ hai, bên cạnh cô gái Pháp, trẻ, đẹp, đeo cặp kính cận dày cộp. Kết thúc biểu diễn, mẹ gặp anh. Cuộc gặp bất ngờ làm anh lúng túng, chưa tìm được cách ứng xử đẹp.Mẹ chào anh, quay sang hỏi chuyện cô gái Pháp.Cô gái Pháp thản nhiên giới thiệu mình là vợ của anh.Mẹ thở dài, lắc đầu, chào anh.Anh đứng nhìn mẹ đi khuất, không kịp nói một lời.

Mẹ về nước, kể chuyện với cha.Cha bảo, phải thông cảm cho nó.Làm khoa học vất vả và cô đơn lắm, không có vợ con bên cạnh, có bạn bè cho khuây khỏa, giảm bớt căng thẳng để mà làm việc cũng là việc thường tình.Mẹ thở dài, lắc đầu: “Ôi! Các nhà khoa học vô tư hay vô tình đến thế này ư!”. Mẹ không nói gì với em, bà gần gũi và chăm sóc hai mẹ con em nhiều hơn.Cha bế Cún con nhiều hơn và hay mua cho cháu nhiều đồ chơi.

Đến chu kì nhận thư của anh, không có thư. Sang chu kì thư hai, em nhận được hai dòng. Anh hỏi thăm Cún con, xin lỗi em, khuyên em tìm hạnh phúc mới.

Hạnh phúc ư ? Lấy anh, sinh Cún con, em đã sờ thấy, nhìn thấy hạnh phúc có hình thù, mặt mũi ra sao.Em chẳng hiểu hạnh phúc là gì, chỉ thấy sự bày đặt trớ trêu của tạo hóa, của cha, của mẹ, của em và Cún con.Chỉ có Cún con là của em, cuộc sống cả đời em.Tất cả cái gì có ở trên đời, em dành trọn cho Cún con.

Mẹ em nhìn em mỗi ngày một héo hon.Mẹ thở dài, lắc đầu mãi không có gì đổi thay.Mẹ  để Cún con cho ông ngoại trông, đưa em đi xem đá bóng, xem xiếc, xem đấu thể thao, bóng chuyền, cầu lông, ten nít.Mẹ vui khi thấy em cười, vỗ tay hoan hô các pha đấu ngoạn mục.Mẹ bảo: “Mẹ thấy môn cầu lông thích hợp với con, hai mẹ con mình vào câu lạc bộ chơi cầu lông nhé”. Em thương mẹ, mẹ đã già, chơi cầu lông có thể làm sức khỏe mẹ tốt lên. Hai mẹ con em, cứ chiều, để Cún con cho ông, vác vợt ra sân. Sức khỏe, tinh thần của em tốt dần, phấn chấn hơn.Cún con có mẹ đã biết chút tiếng cười.

Lên bảy tuổi, em cho Cún con vào học ở Học viện âm nhạc, theo nghiệp của bà ngoại, của mẹ.Hai mẹ con, ngày lại ngày giắt nhau đến học viện.Thấm thoắt, Cún con đã là thiếu nữ.Em vẫn đơn chiếc, vò võ canh thâu.Đêm đêm, gửi lòng mình vào tiêng đàn.Âm nhạc đã cho em cuộc sống, cho em sự ấm áp của một gia đình chỉ có mẹ dại con thơ.

Cha mẹ em đã về cõi.Ở lại ngôi nhà thừa kế của cha mẹ, nhiều kỷ niệm đau buồn, em bán đi và về ở chung cư ”.

Tiếng gà gáy sáng ở các làng cất lên.Trăng đã về non.Sương thấm lạnh hai vai.Bàn tay em trong bàn tay tôi nóng ấm, mềm mại.Cún con đã tỉnh giấc. Trên hành lang tầng hai, thấy tôi và mẹ cháu giắt tay nhau lên cầu thang.Cười hóm hỉnh, cún con ghé vào tai mẹ nói thầm: “Đêm trắng hả mẹ”.

 

                                                                      Hà Nội 8 - 2011

                                                                     Nguyễn Lâm Diễm

 


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14  Sau»

Powered by vnWeblogs